Thứ năm, ngày 28 tháng 03 năm 2024

Tuyên truyền giáo dục - Nữ công

Cập nhật lúc : 00:00 19/07/2019

Đề cương tuyên truyền 90 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam

Đề cương tuyên truyền 90 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2019) (Kèm theo Hướng dẫn số -HD/BTGTU, ngày /7/2019 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

I. KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ CÔNG HỘI ĐỎ - TIỀN THÂN CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

1. Sự ra đời của của giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp những năm cuối thế kỷ XIX. Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến với hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân; duy trì nền kinh tế lạc hậu dựa vào sản xuất tiểu nông là chính, cơ sở kinh tế công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển. Sau khi cuộc xâm lăng và bình định đã cơ bản hoàn thành, thực dân Pháp liền bắt tay tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô mở rộng ra cả nước. Các nhà máy rượu bia, vải sợi, điện nước, ngành đường sắt, hầm mỏ, đồn điền cao su, cà phê... lần lượt ra đời và cùng với đó, đội ngũ những người công nhân Việt Nam đầu tiên được hình thành. Họ là những người nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất, những người thợ thủ công bị phá sản buộc phải vào làm việc trong các doanh nghiệp tư bản Pháp. Theo số liệu thống kê trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tổng số công nhân của Việt Nam khoảng trên 10 vạn người, chủ yếu tập trung ở một số thành phố lớn, như: Hà Nội, Sài Gòn - Chợ Lớn, Hải Phòng và vùng mỏ Quảng Ninh... Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, để bù đắp những tổn thất, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô và tốc độ lớn hơn trước. Chúng tăng cường đầu tư vào các ngành khai khoáng, giao thông vận tải, đồn điền, công nghiệp chế biến, dệt may... nhằm tăng cường vơ vét và bóc lột ở các nước thuộc địa. Thời kỳ này, số lượng công nhân Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, đến đầu năm 1929 đã lên đến trên 22 vạn người.

Dưới sự áp bức bóc lột hà khắc của thực dân, phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức tập hợp nhau lại đấu tranh đòi quyền lợi, dẫn đến hình thành các Hội Ái hữu, Hội Tương tế trong các nhà máy, xí nghiệp. Cuối năm 1920, người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng đã vận động thành lập Công hội Ba Son ở Sài Gòn, mở đầu cho phong trào đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.

2. Sự ra đời của Công hội đỏ Bắc Kỳ - tiền thân của Công đoàn Việt Nam ngày nay

Quá trình hình thành và phát triển của Công hội đỏ Bắc Kỳ gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những năm đầu của thế kỷ XX. Người đã tham gia Công đoàn hải ngoại Anh khi hoạt động tại Luân Đôn trong những năm 1914 - 1917; gia nhập Công đoàn Kim khí quận 17 Paris vào năm 1919. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người đặt cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng cho việc thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam. Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người chỉ dẫn: “Công hội trước hết là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”. Tháng 6/1925, Người sáng lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu - Trung Quốc và trực tiếp giảng dạy nhằm nâng cao lý luận chính trị cho học viên.

Những năm 1925 - 1928, dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào “Vô sản hóa” đã thâm nhập sâu rộng vào trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm lò để tuyên truyền, vận động công nhân tích cực tham gia phong trào đấu tranh. Sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên (3/1929), đặc biệt là sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929) là kết quả của quá trình vận động, tổ chức công nhân mà Nguyễn Đức Cảnh là một trong những sáng lập viên và giữ vai trò quan trọng. Trên cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, Nguyễn Đức Cảnh được Trung ương lâm thời phân công phụ trách công tác vận động công nhân. Nhận thức được vai trò quan trọng của tổ chức Công hội, của công nhân trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, bóc lột, bảo vệ quyền lợi của công nhân, Nguyễn Đức Cảnh và những người đồng chí đã tích cực tổ chức cuộc vận động phong trào công nhân, trước hết là phong trào công nhân Bắc Kỳ để thành lập tổ chức Công hội. Ngày 28/7/1929, Đại hội đại biểu Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất khai mạc do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh chủ trì. Đại hội đã quyết định thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ, thông qua Điều lệ và hệ thống tổ chức của Công hội, ra báo “Lao động” và tạp chí “Công hội Đỏ”, bầu Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh làm Hội trưởng. Sự kiện thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ là mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam. Kể từ đây, GCCN Việt Nam có một đoàn thể cách mạng rộng lớn, hoạt động có tôn chỉ, mục đích, đứng ra dẫn dắt phong trào.

II. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN QUA CÁC THỜI KỲ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)

Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tổng Công hội Đỏ đã tập hợp lực lượng thợ thuyền, đội quân chủ lực của cách mạng Việt Nam, tạo nên cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931. Cuối năm 1931, phong trào đấu tranh của GCCN Việt Nam bị thực dân Pháp đàn áp dã man, hầu hết số cán bộ Đảng và Công hội Đỏ đều bị địch bắt, khiến cho mối liên lạc giữa Đảng và quần chúng, giữa Công hội Đỏ và phong trào công nhân gần như bị gián đoạn. Trong điều kiện đó, bất chấp sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp, Công hội Đỏ vẫn tích cực tuyên truyền, vận động công nhân, phát triển tổ chức. Từ năm 1932 - 1936, phong trào cách mạng trong cả nước bắt đầu phục hồi.

Từ năm 1936 - 1939, tổ chức Công hội Đỏ đổi tên thành Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu chuyển sang thời kỳ hoạt động bán công khai[1]. Nhờ sự tổ chức linh hoạt, thích hợp với tình hình, phong trào công nhân giai đoạn này vẫn phát triển mạnh mẽ lên đỉnh điểm mới. Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp đầu hàng và thỏa hiệp với phát xít Nhật thẳng tay đàn áp phong trào dân chủ chống chiến tranh của nhân dân ta, thủ tiêu các quyền tự do nghiệp đoàn. Trước tình hình đó, tổ chức Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu phải rút vào hoạt động bí mật và lấy tên là “Hội công nhân phản đế”, năm 1941 đổi thành “Hội Công nhân cứu quốc” làm nòng cốt cho hoạt động của tổ chức Việt Minh.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam thực sự là trung tâm đoàn kết của công nhân lao động Việt Nam. Với trên 20 vạn người trong năm 1945, các đoàn viên Công đoàn trở thành lực lượng nòng cốt làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

2. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 3/1946, Hội nghị đại biểu Công nhân cứu quốc Bắc Bộ, Trung Bộ và Tổng Công đoàn Nam Bộ đã quyết định thống nhất về mặt tổ chức trên phạm vi cả nước thành “Hội Công nhân cứu quốc”. Tháng 6/1946, tại Hội nghị cán bộ Công đoàn cứu quốc đã đổi tên “Hội Công nhân cứu quốc” thành “Công đoàn”. Ngày 20/7/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam” đã chính thức được thành lập và được công nhận là thành viên chính thức của Liên hiệp Công đoàn thế giới vào năm 1949.

Trong những năm đầu đất nước giành độc lập, tổ chức Công đoàn và GCCN Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám, tham gia tích cực vào cuộc Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, các đội cảm tử Thủ đô, trong đó nòng cốt là công nhân đã chiến đấu với tinh thần quả cảm, anh dũng.

Thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức vận động công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) tập trung xây dựng nhà máy, công xưởng, sản xuất vũ khí, khí tài quân sự; khắc phục khó khăn, hăng hái thi đua lao động phục vụ kháng chiến. Tại chiến khu Việt Bắc, từ ngày 01 - 15/01/1950, Đại hội lần I Công đoàn Việt Nam đã khẳng định mục tiêu: “Động viên công nhân viên chức cả nước, nhất là công nhân ngành Quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi”. Tại Đại hội, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch.

Tháng 02/1951, Đại hội lần thứ II của Đảng đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế phục vụ tổng phản công, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng, Công đoàn vận động công nhân hăng hái sản xuất và tham gia quản lý, xây dựng xí nghiệp. Đây là bước chuyển biến lớn về nhận thức tư tưởng và phương thức hoạt động Công đoàn. Từ đây trong các xí nghiệp quốc doanh, Công đoàn đại diện cho công nhân tham gia các Ủy ban xí nghiệp, góp phần trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh, đưa nền kinh tế kháng chiến phát triển về mọi mặt. Ở vùng tự do, Công đoàn phát động công nhân “Thi đua sản xuất, thi đua xây dựng”, “Cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến, trau dồi nghề nghiệp”. Phong trào được tổ chức, chỉ đạo tương đối chặt chẽ, thực hiện dân chủ trong quản lý sản xuất.

Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết, phát huy vai trò tiên phong của GCCN vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, đấu tranh kiên cường, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc vẻ vang 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

3. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH), miền Nam còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ.

Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa I) họp vào tháng 8/1954 đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là: “Cần phải động viên, tổ chức đông đảo quần chúng lao động trong các đô thị thành một lực lượng mạnh mẽ làm chỗ dựa tốt nhất, chắc chắn nhất cho chính quyền tiến hành công tác tiếp thu, phục hồi sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự thành phố”.

Ở miền Bắc tiến hành công cuộc tái thiết đất nước, khó khăn tiếp tục đặt lên vai người công nhân. Với trách nhiệm chủ nhân của đất nước, đội ngũ CNVCLĐ đã đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhờ vậy chỉ trong thời gian ngắn hoạt động sản xuất tại các cơ sở công nghiệp đã phục hồi. Qua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, những điển hình trong phong trào thi đua yêu nước của GCCN được lan tỏa, như: “Sóng Duyên Hải, “Hợp tác xã Thành Công”, “Ba quyết tâm”…, đã xuất hiện nhiều CNVCLĐ tiêu biểu được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, là những tấm gương sáng trong học tập, lao động, sản xuất và chiến đấu.

Ở miền Nam, phong trào công nhân, Công đoàn hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố, đàn áp. Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn, đời sống của CNVCLĐ khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng đã chỉ đạo các cơ sở trong nội thành, trong các đồn điền phải tìm mọi cách bám đất, bám dân phát triển lực lượng, tổ chức cho công nhân đấu tranh.

Ngày 05/11/1957, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 108-SL/L10 về ban hành Luật Công đoàn đã tạo cơ sở pháp lý, nâng cao vị trí của tổ chức Công đoàn, củng cố vai trò lãnh đạo của GCCN trong tình hình mới. Thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa đã tạo ra những tiền đề quan trọng góp phần xây dựng và đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH; đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, thành quả đó có đóng góp quan trọng của GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam.

Trước những yêu cầu mới, Đại hội lần thứ II Công đoàn Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23 - 27/02/1961 đã quyết định đổi tên “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam” thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”. Đại hội đã đề ra mục tiêu: “Động viên cán bộ, công nhân, viên chức thi đua lao động sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc với tinh thần mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt, góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà”; đồng chí Hoàng Quốc Việt tiếp tục được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ III Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 11 - 14/02/1974 tại Hà Nội, bầu đồng chí Tôn Đức Thắng - Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm Chủ tịch danh dự, đồng chí Hoàng Quốc Việt tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch. Mục tiêu của Đại hội là: “Các cấp Công đoàn phải phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng CNXH với năng suất lao động, hiệu quả công tác, phục vụ và tham gia chiến đấu, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Tổng Công đoàn Việt Nam tham gia xây dựng một số chế độ, chính sách bổ sung và sửa đổi về lao động, tiền lương, tiền thưởng. Liên hiệp Công đoàn các tỉnh, thành phố đã ký kết Nghị quyết liên tịch với cơ quan chính quyền đồng cấp về việc tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đối với CNVCLĐ. Nhiều Công đoàn cơ sở đã kịp thời động viên CNVCLĐ thi đua lao động, sản xuất, phấn đấu hoàn thành kế hoạch được giao. Việc thực hiện quy tắc an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp được thực hiện tốt hơn, cải thiện điều kiện làm việc cho CNVCLĐ.

Năm 1965, Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam được thành lập đã không ngừng củng cố và phát triển, vừa tổ chức cho CNVCLĐ các thành phố đấu tranh, vừa động viên CNVCLĐ vùng giải phóng đẩy mạnh sản xuất phục vụ chiến đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân - 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Công đoàn giải phóng đã vận động CNVCLĐ ở các đô thị đồng loạt nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ trang tiêu diệt địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

4. Thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội (1975 - 1986)

Đầu năm 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, đã tạo điều kiện cơ bản để thống nhất tổ chức Công đoàn trên phạm vi cả nước.

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, từ tháng 01/1976, Tổng Công đoàn Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam bắt tay vào chuẩn bị các điều kiện cho việc thống nhất tổ chức Công đoàn của GCCN Việt Nam. Ngày 06/6/1976, Hội nghị Công đoàn toàn quốc được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định thống nhất Công đoàn hai miền Nam, Bắc thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”.

Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IV được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 08 - 11/5/1978, đã nêu rõ mục tiêu: “Động viên GCCN và những người lao động khác thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa trong cả nước”; đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị được bầu làm Chủ tịch.

Những năm 1981 - 1982, Công đoàn đã tiến hành nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng trong công nhân, viên chức về tình hình và nhiệm vụ của đất nước, về chủ trương, chính sách, nhất là các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đi đôi với giáo dục chính trị, Công đoàn đã có nhiều cố gắng trong việc duy trì phong trào học bổ túc văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ; đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao; công tác báo chí, xuất bản của Công đoàn đã có những tiến bộ mới.

Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam tiến hành từ ngày 16 - 18/11/1983 đã khẳng định mục tiêu: “Động viên công nhân, lao động thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng, là phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”, Đại hội đã Quyết định lấy ngày 28/7/1929 là Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Chủ tịch.

Các phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong CNVCLĐ đã tạo được bước chuyển biến tích cực, nhiều điển hình tiên tiến và nhân tố mới đã hình thành, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác phát triển đoàn viên được Công đoàn chú trọng, số đoàn viên và Công đoàn cơ sở ngày càng tăng lên. Bên cạnh đó, Công đoàn còn tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, đề nghị Nhà nước bổ sung phụ cấp ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, trợ cấp khó khăn… Các chế độ nghỉ ngơi, tham quan du lịch và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được duy trì, phát triển.

Nhân dịp kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/1984), Nhà nước đã tặng Tổng Công đoàn Việt Nam Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.

5. Thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986 - 2019)

Trong tình hình đất nước tiến hành đổi mới, từng bước hội nhập, Đại hội lần thứ VI Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 17 - 20/10/1988 tại Hà Nội đã xác định mục tiêu: “Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội”. Đại hội quyết định đổi tên “Tổng Công đoàn Việt Nam” thành “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam”; đồng chí Nguyễn Văn Tư được bầu làm Chủ tịch. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam đã có nhiều đóng góp vào kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), đưa đất nước ta dần thoát khỏi khó khăn, ổn định đời sống nhân dân và CNVCLĐ.

Đại hội lần thứ VII Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 09 - 12/11/1993 tại Hà Nội đã nhấn mạnh yêu cầu: “Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, chăm lo bảo vệ lợi ích công nhân lao động”; đồng chí Nguyễn Văn Tư được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ VIII Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 03 - 06/11/1998 nhấn mạnh: “Vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn vững mạnh”; đồng chí Cù Thị Hậu được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ IX Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 10 - 13/10/2003, đồng chí Cù Thị Hậu tiếp tục được bầu lại làm Chủ tịch, Đại hội đã khẳng định: “Xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, góp phần tăng cường đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đại hội lần thứ X Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 02 - 05/11/2008 đã xác định mục tiêu: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Công đoàn các cấp, hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, CNVCLĐ làm đối tượng vận động, chuyển mạnh hoạt động Công đoàn vào việc tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”; đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu làm Chủ tịch.

Nhiệm kỳ lần thứ X của Công đoàn Việt Nam hoạt động trong bối cảnh GCCN Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nghị quyết thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về xây dựng GCCN, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của hàng triệu CNVCLĐ trong cả nước. Những hoạt động triển khai thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và Công đoàn đã tạo được chuyển biến trong cả nhiệm kỳ hoạt động, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên và người lao động.

Đại hội lần thứ XI Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 27 - 30/7/2013 đã xác định phương châm hành động: “Vì quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động, vì sự phát triển bền vững của đất nước, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn”; đồng chí Đặng Ngọc Tùng tiếp tục được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ XII Công đoàn Việt Nam diễn ra từ ngày 24 - 26/9/2018, đồng chí Bùi Văn Cường được bầu làm Chủ tịch. Đại hội đã xác định 09 nhóm chỉ tiêu, 09 nhiệm vụ tổng quát và 03 khâu đột phá trong cả nhiệm kỳ, ngoài ra còn có 01 chương trình trọng tâm: “Công đoàn Việt Nam đồng hành cùng Chính phủ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển bền vững đất nước”.

Có thể khẳng định rằng, trong công cuộc đổi mới đất nước, trải qua 07 kỳ Đại hội Công đoàn Việt Nam, GCCN Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đang có mặt trong tất cả các ngành nghề, các thành phần kinh tế, là lực lượng quan trọng, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

III. SỰ RA ĐỜI, NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN THỪA THIÊN HUẾ TRONG 90 NĂM QUA

1. Sự hình thành đội ngũ công nhân - lao động Thừa Thiên Huế và các phong trào đấu tranh giai đoạn 1930 - 1945

Công nhân lao động Thừa Thiên Huế hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Trong những năm đầu thế kỷ XX, nền công nghiệp ở miền Trung và Thừa Thiên Huế nói riêng chưa phát triển. Thực dân Pháp chỉ xây dựng ở Thừa Thiên Huế một số cơ sở công nghiệp quy mô sản xuất nhỏ, trang thiết bị cũ kỹ lạc hậu phục vụ cho nhu cầu tại chỗ của chế độ thực dân. Nền công nghiệp nhỏ bé nên số lượng công nhân công nghiệp ở Thừa Thiên Huế giai đoạn đầu rất ít, tập trung chủ yếu ở thành phố Huế. Ngoài số lượng công nhân công nghiệp, Thừa Thiên Huế còn có một lực lượng lao động thủ công, thợ thuyền khá đông đảo tập trung ở các ngành: may mặc, đóng giày, xây dựng, làng rèn phường Đúc, Hiền Lương, công nhân xe kéo, bồi bếp...

Dưới chính sách thống trị, bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, cuộc sống của GCCN lao động Thừa Thiên Huế vô cùng cơ cực, chế độ lao động hà khắc cộng với đồng lương ít ỏi đã đẩy người công nhân vào tình trạng quẫn bách. Giai đoạn đầu, giai cấp công nhân đấu tranh chống lại giới chủ dưới hình thức tự phát đòi quyền lợi kinh tế ở mức thấp, như: phong trào đấu tranh đòi ân xá cụ Phan Bội Châu (1925), phong trào bãi khóa của Trường Kỹ nghệ thực hành (3/1926), phong trào đình công của anh em phu xe kéo ở Huế (4/1926)...

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, GCCN Thừa Thiên Huế trở thành lực lượng tiên phong đi đầu trong các phong trào đấu tranh. Phong trào công nhân Thừa Thiên Huế phát triển mạnh mẽ dưới hình thức hợp pháp, nửa hợp pháp, đòi quyền tự do dân chủ, quyền lợi kinh tế, hoạt động trong các tổ chức: Công hội đỏ, Hội Ái hữu, Công đoàn cứu quốc. GCCN lao động cùng với đồng bào các ngành, các giới, tập hợp lực lượng vào mặt trận chung thống nhất, liên tục xuống đường đấu tranh, từ cao trào 1930 - 1931, đấu tranh khôi phục phong trào 1932 - 1935 đến cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939; từ đợt đấu tranh kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 01/5; cuộc đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm (7/1930); cuộc vận động ủng hộ “Nghệ An đỏ” (1930 - 1931), đến phong trào Đông Dương đại hội, phong trào đón Gô-đa, phong trào đấu tranh nghị viện, phong trào chống dự án tăng thuế, đòi giới chủ tăng lương, thực hiện luật lao động...

Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị chiến tranh, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, đánh phá các cơ sở Đảng, phong trào công nhân ở Thừa Thiên Huế buộc phải rút về hoạt động bí mật và lấy tên là “Hội công nhân phản đế”, ngoài nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ lợi ích hàng ngày, còn có nhiệm vụ trực tiếp giác ngộ quần chúng về tinh thần chống chiến tranh đế quốc, chống áp bức dân tộc, làm nhiệm vụ lật đổ chính quyền thực dân Pháp.

Những năm 1941 - 1943, phong trào công nhân lao động Thừa Thiên Huế được khôi phục, sử dụng các hình thức đấu tranh kinh tế, kết hợp đấu tranh chính trị, các hội Công nhân cứu quốc được thành lập và tham gia vào cuộc khởi nghĩa dành chính quyền năm 1945 - cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất, lật đổ ách áp bức của thực dân phong kiến, lập nên Nhà nước công - nông, xác định vị trí của người dân một nước độc lập, tự do.

2. Công đoàn và phong trào công nhân - lao động Thừa Thiên Huế trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập nhưng vẫn còn non trẻ. Nạn đói, các ngành sản xuất bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm. Hơn 5.000 quân Tưởng kéo vào Thuận Hóa, còn có hơn 4.500 quân Nhật, khoảng 400 tàn quân Pháp mới được Nhật thả ra và hơn 800 quân Pháp với danh nghĩa tiếp phòng quân kéo vào.

Tháng 10/1945, tại Nhà in Đắc Lập, thành phố Huế, Đại hội Công nhân cứu quốc lần thứ I được tổ chức và bầu đồng chí Trần Tấn làm Bí thư Hội Công nhân cứu quốc. Sau Đại hội, các tổ chức “Công nhân cứu quốc” được hình thành ở các nhà máy, xí nghiệp, động viên công nhân tham gia diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Tháng 6/1946, “Hội Công nhân cứu quốc” được đổi tên thành “Liên đoàn Lao động tỉnh”. Tháng 9/1947, tại Khe Đá Mài, CK3, Chiến khu Hòa Mỹ, Hội nghị Đại biểu Công đoàn tỉnh lần thứ II được tổ chức, bầu đồng chí Trần Anh Liên làm Thư ký Công đoàn Thuận Hóa. Tháng 6/1950, Hội nghị Thường vụ Liên hiệp Công đoàn mở rộng đã cử đồng chí Nguyễn Luận làm Thư ký.

Giai đoạn 1947 - 1950, Mặt trận với lực lượng cách mạng bị đánh bật ra khỏi đồng bằng, thị xã. Theo tiếng gọi của Đảng, anh chị em công nhân, lao động tùy theo nhiệm vụ của mình đã lên đường kháng chiến, một bộ phận ra khu IV, một bộ phận lên rừng và một bộ phận tiếp tục bám trụ trong lòng thị xã tạm chiếm, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng cơ sở kháng chiến, phá hoại kinh tế địch, khôi phục tổ chức công đoàn, phát triển hội viên ngày càng đông đảo.

Tháng 5/1951, Hội nghị Đại biểu Công đoàn toàn tỉnh lần thứ ba được tổ chức, bầu Ban Chấp hành Công đoàn tỉnh do đồng chí Nguyễn Văn Luận (tức Thảo) làm Thư ký. Sau Đại hội, các tổ chức công đoàn cơ sở được củng cố, hình thành các bí danh nhằm tránh sự khủng bố của kẻ thù; phong trào thi đua ái quốc được đẩy mạnh. Công nhân tiếp tục đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ và bí mật quyên góp ủng hộ kháng chiến. Một số nơi thành lập “Hội ái quốc” hoạt động dưới dạng bán hợp pháp; phong trào chống bắt lính trong công nhân lên cao. GCCN cùng với quân và dân Thừa Thiên Huế, đã giành nhiều thắng lợi to lớn về quân sự, như: chiến thắng trận An Gia, Phổ Lại, Ưu Điềm, Thanh Hương - Mỹ Xuyên, Thanh Lam Bồ, bảo vệ Chiến khu Dương Hòa, chống trận càn Ca-mac-nhơ đánh vào vùng Phong - Quảng…

Quá trình tham gia kháng chiến từ năm 1946 - 1954, nhiều cán bộ, đảng viên trong lực lượng công nhân viên chức đã trưởng thành, trở thành những cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước và quân đội. Cùng với Đảng bộ, quân và các tầng lớp nhân dân Thừa Thiên, đội ngũ công nhân - lao động và công đoàn trong tỉnh từ vùng tạm chiếm đến chiến khu đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi chung của quê hương, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Thừa Thiên Huế vinh dự đón nhận cờ luân lưu Quyết chiến, Quyết thắng do Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng.

3. Công đoàn và phong trào công nhân - lao động Thừa Thiên Huế trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai miền Nam - Bắc. Miền Nam, trong đó có Thừa Thiên Huế còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ xâm lược. Chúng liên tiếp tiến hành các chiến lược: “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”, với âm mưu bình định miền Nam.

Trong giai đoạn “Chiến tranh đặc biệt”, Thừa Thiên Huế là trọng điểm “tố cộng” của Mỹ; qua giai đoạn “Chiến tranh cục bộ”, Thừa Thiên Huế trở thành căn cứ tiền phương của quân Mỹ ở vùng giữa. Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra sức khủng bố, đàn áp, bóc lột, khống chế. Chúng vừa tăng cường xây dựng căn cứ, phát triển hạ tầng cơ sở, thực hiện các chính sách “bình định” đẫm máu, vừa dùng các thủ đoạn để cài cắm người vào tất cả công sở, trường học, xí nghiệp, gây chia rẽ, biến các nghiệp đoàn thành công cụ thực hiện âm mưu “diệt cộng”, dùng hàng hóa viện trợ để mua chuộc, tạo nên những tệ nạn xã hội, tăng thuế má... gây cho phong trào cách mạng nhiều tổn thất, khó khăn.

Huế thời kỳ này vẫn chủ yếu là thị trường tiêu thụ, không có tư sản lớn cả công nghiệp và thương nghiệp. Hàng vạn nông dân sa cơ, thất nghiệp đã bỏ làng quê lên thành thị và các dinh điền để làm việc, vì vậy lực lượng công nhân lao động ngày càng phát triển nhanh. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, phong trào công nhân lao động Thừa Thiên Huế đã có chuyển biến mới về số lượng và chất lượng, từng bước giữ các vị trí nòng cốt trong các phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy của nhân dân thành phố Huế. Nhiều đồng chí cán bộ đã móc nối và xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng ở các xí nghiệp, khu lao động và các công sở... Công đoàn Giải phóng thành phố Huế được thành lập, các ủy ban đấu tranh trong công nhân lao động, tiểu thương, giáo chức, học sinh, sinh viên được thành lập.

Dù bị đàn áp hết sức dã man nhưng phong trào đấu tranh của công nhân lao động Thừa Thiên Huế vẫn diễn ra liên tục, có sự kết hợp giữa đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, với đấu tranh chính trị từng bộ phận và tiến lên đấu tranh võ trang, có sự phối hợp giữa công nhân đô thị và đồn điền, giữa công nhân và nông dân cùng với tầng lớp trí thức, học sinh và đã nhanh chóng phát triển thành phong trào chính trị rộng lớn, đòi đuổi Mỹ, lật ngụy. Tiêu biểu là 5 phong trào đô thị ở thành phố: phong trào đòi hòa bình, phong trào chống tệ nạn xã hội và thảm họa chiến tranh, phong trào đòi dân sinh, dân chủ, phong trào chống bắt lính, phong trào chống quân sự hóa học đường. Bên cạnh đó, là các phong trào đấu tranh chống xây dựng ấp chiến lược, không lên xe đi dinh điền, không đi quân dịch, đòi được sắp xếp nhà ở, công việc, cung cấp lương thực, thực phẩm, mở lớp học, trạm xá, đòi chấm dứt kỳ thị tôn giáo và chống các quy định khắc nghiệt khác... Mặc dù bị đàn áp, ra lệnh giới nghiêm nhưng công nhân lao động Huế vẫn liên tục biểu tình đấu tranh, tổ chức cuộc mit-tinh với 3.000 người nhân ngày Quốc tế Lao động để giương cao các khẩu hiệu dân sinh, dân chủ, hòa bình, thống nhất; hàng chục vạn nhân dân 6 huyện và nhân dân Huế đã đình công, bãi chợ, biểu tình kéo về Phu Văn Lâu để mit-tinh đòi hiệp thương Tổng tuyển cử; hàng trăm cuộc đấu tranh đòi quyền sống, chống kìm kẹp của công nhân các xí nghiệp, nhà máy, những người bán hàng ở các chợ, lao động ở các dinh điền, đốt Tòa lãnh sự Mỹ, đập phá Sở Thông tin Văn hóa Hoa Kỳ, mở chiến dịch “bất hợp tác với người Mỹ”, đòi thành lập chính phủ dân sự, đòi bầu Quốc hội, đòi Thiệu - Kỳ từ chức, phản đối đế quốc Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, phát động “tuần lễ tự trọng”, ngày “học đường quật khởi”, lôi kéo các sĩ quan, công chức, binh lính ngụy đứng về phía cách mạng... Công nhân lao động Huế đã góp phần chuẩn bị vũ khí, vật chất, hoa tiêu dẫn đường, đưa bộ đội vào góp phần giải phóng quê hương.

4. Công nhân, viên chức, lao động và Công đoàn Thừa Thiên Huế khắc phục hậu quả sau chiến tranh, xây dựng quê hương (1975 - 1989)

Năm 1976, các tổ chức Công đoàn được thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Tháng 02/1976, tại nhà số 31B Nguyễn Thái Học, thành phố Huế, Hội nghị cán bộ Công đoàn tỉnh lần thứ IV được tổ chức và bầu ra Ban Chấp hành Liên hiệp Công đoàn giải phóng tỉnh Thừa Thiên Huế gồm 11 đồng chí. Cùng với nhân dân lao động, công nhân viên chức Thừa Thiên Huế đã tích cực tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước ổn định sản xuất, đời sống, góp phần quan trọng giữ vững thành quả cách mạng.

Sau khi sát nhập 3 tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình thành tỉnh Bình Trị Thiên, đến năm 1989, Liên hiệp Công đoàn Bình Trị Thiên đã 04 lần tổ chức đại hội. Lần thứ nhất (Đại hội lần thứ V), diễn ra từ ngày 22 - 27/11/1977, tại thành phố Huế và bầu Ban Chấp hành Liên hiệp Công đoàn gồm 39 đồng chí, trong đó có 7 đồng chí là nữ. Ngày 15/01/1978, Ban Chấp hành Liên hiệp Công đoàn Bình Trị Thiên khóa I họp phiên thứ nhất bầu 11 đồng chí vào Ban Thường vụ. Đại hội lần thứ II (Đại hội lần thứ VI), diễn ra từ ngày 13 - 15/8/1981, tại thành phố Huế, bầu Ban Chấp hành Liên hiệp Công đoàn gồm 41 đồng chí, trong đó có 7 nữ. Ngày 16/8/1981, Ban Chấp hành Liên hiệp Công đoàn Bình Trị Thiên khóa II họp phiên thứ nhất bầu 11 đồng chí vào Ban Thường vụ. Đồng chí Lê Viết Tâm được bầu làm Thư ký Liên hiệp Công đoàn. Đại hội lần thứ III (Đại hội lần thứ VII), diễn ra từ ngày 26 - 28/8/1983, tại Nhà Văn hóa Trung tâm tỉnh, bầu Ban chấp hành gồm 42 đồng chí, trong đó có 8 nữ. Ban Chấp hành đã bầu ra 13 đồng chí vào Ban Thường vụ. Đồng chí Lê Viết Tâm được bầu làm Thư ký Liên hiệp Công đoàn. Đại hội lần thứ IV (Đại hội lần thứ VIII), diễn ra từ ngày 28 - 30/7/1988, tại thành phố Huế, bầu Ban chấp hành Liên hiệp Công đoàn khóa IV gồm 41 đồng chí. Ban Chấp hành mới đã bầu 12 đồng chí vào Ban Thường vụ. Đồng chí Lê Viết Tâm được bầu làm Thư ký Liên hiệp Công đoàn. Ngày 17/10/1988, Liên hiệp Công đoàn Bình Trị Thiên được đổi tên thành Liên đoàn Lao động Bình Trị Thiên, chức danh Thư ký Liên hiệp Công đoàn được đổi thành Chủ tịch Liên đoàn Lao động.

Các phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong CNVCLĐ đã tạo được bước chuyển biến tích cực; nhiều điển hình và nhân tố mới hình thành; góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác phát triển đoàn viên được Công đoàn chú trọng, số đoàn viên và Công đoàn cơ sở ngày càng tăng lên. Năm 1976, toàn tỉnh có 1.513 đoàn viên, đến năm 1989 tăng lên 101.198 đoàn viên, với 21 Công đoàn cơ sở trực thuộc, 7 Công đoàn ngành và 14 Công đoàn huyện, thị, thành phố.

5. Công nhân, viên chức, lao động và Công đoàn Thừa Thiên Huế trong công cuộc đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1989 - 2009)

Tháng 7/1989, tỉnh Bình Trị Thiên được phân chia lại địa giới hành chính thành 3 tỉnh: Thừa Thiên Huế, Quảng Trị và Quảng Bình. Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động Thừa Thiên Huế lúc này gồm 17 đồng chí. Đồng chí Lê Viết Tâm tiếp tục được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh. Tháng 01/1990, đồng chí Nguyễn Xuân Lý được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh thay đồng chí Lê Viết Tâm chuyển công tác. Ngày 03/8/1992, đồng chí Phan Trung Kế được quyết định làm Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh thay đồng chí Nguyễn Xuân Lý chuyển công tác.

Từ khi chia tỉnh cho đến nay, Liên đoàn Lao động tỉnh đã trải qua 6 kỳ đại hội. Đại hội lần thứ IX diễn ra từ ngày 28 - 30/6/1993, tại Nhà Văn hóa Trung tâm tỉnh, bầu 27 đồng chí vào Ban chấp hành Liên đoàn Lao động tỉnh. Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ nhất đã bầu 9 đồng chí vào Ban Thường vụ. Đồng chí Phan Trung Kế tiếp tục làm Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh. Đại hội lần thứ X diễn ra từ ngày 08 - ngày 09/7/1998, tại thành phố Huế, bầu Ban Chấp hành gồm 35 ủy viên. Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ nhất bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, do đồng chí Phan Trung Kế làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ XI diễn ra từ ngày 14 - 16/7/2003, tại thành phố Huế, bầu Ban Chấp hành gồm 35 ủy viên, Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, do đồng chí Phan Trung làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ XII diễn ra từ ngày 26 - 28/6/2008, tại thành phố Huế, bầu Ban Chấp hành gồm 35 ủy viên, Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, do đồng chí Phan Trung làm Chủ tịch. Đại hội Công đoàn tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2013 - 2018 diễn ra trong 2 ngày 21 và 22/3/2013, bầu Ban Chấp hành gồm 35 ủy viên. Ban Chấp hành đã họp phiên thứ nhất, bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, bầu đồng chí Nguyễn Nam Tiến - Tỉnh ủy viên giữ chức vụ Chủ tịch; các đồng chí Nguyễn Văn Thạnh, Trần Quang Vinh, Nguyễn Khoa Hoài Hương giữ chức vụ Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh. Đại hội Công đoàn tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2018 - 2023 diễn ra trong 2 ngày 27 và 28/3/2018, tại Trung tâm Văn hóa thông tin tỉnh, bầu Ban Chấp hành gồm 35 ủy viên; Ban Thường vụ gồm 10 đồng chí, đồng chí Nguyễn Khoa Hoài Hương - Tỉnh ủy viên, Ủy viên BCH Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được bầu giữ chức vụ Chủ tịch và các đồng chí Trần Quang Vinh, Phan Hồng Anh giữ chức vụ Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh; bầu Ủy ban Kiểm tra gồm 9 đồng chí. Đại hội đã xác định mục tiêu cơ bản là: “Tiếp tục đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động công đoàn, lấy nhu cầu, nguyện vọng hợp pháp chính đáng của  đoàn viên, người lao động làm cơ sở tổ chức hoạt động; Nâng cao bản lĩnh chính trị, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức pháp luật, trách nhiệm xã hội của người lao động; Tham gia tích cực trong công tác xây dựng Đảng; Phát huy dân chủ đi đôi với thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương; Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội của tỉnh phát triển nhanh và bền vững; Xây dựng Thừa Thiên Huế theo hướng đô thị “Di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện với môi trường”.

Tính đến tháng 5/2019, tổng số đoàn viên Công đoàn trên địa bàn tỉnh là 77.309 người. Chất lượng đội ngũ đoàn viên Công đoàn và CNVCLĐ, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng được nâng cao. Việc làm, thu nhập, quan hệ lao động chuyển biến tích cực. Việc chăm lo đời sống, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động đã được các cấp Công đoàn tích cực quan tâm thực hiện. Các hoạt động xã hội, tình nghĩa, tương thân, tương ái ở các cấp Công đoàn được đẩy mạnh, tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của nhiều cơ quan, đơn vị, doanh nghi

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY THỪA THIÊN HUẾ

Tư vấn pháp luật

Em là giáo viên tại một trường tiểu học. Em đã được nhận bằng khen của ... 

Trả lời:

Theo định tại Điều 3 Thông tư 08/2013//TT-BNV thì điều kiện nâng bậc lương ...

Xem tất cả

--- Liên kết ---